Mục lục

TÌM HIỂU VỀ TÂM LÝ HỌC CÁ THỂ, NGHĨ TỚI CỤ ÔNG

1) Phấn đấu để thành công:

– Được thúc đẩy chủ yếu bởi cảm giác thua kém, mối quan tâm xã hội và sự thành công của cả nhân lọai;

– Quan tâm đến mục tiêu vượt quá bản thân mình;

– Có thể giúp người mà không đòi hỏi đền đáp;

– Không nhìn người khác như đối thủ mà như người cộng tác;

– Nỗ lực thực tế nhằm cải thiện bản thân để triển nở tối đa;

– [Thành công] = [khuynh hướng tự nhiên tiến lên hòan thiện, không hạ thấp, không làm tổn hại đến người khác].

– Cảm thức rõ nét về bản thân, nhưng nhìn mọi vấn đề theo hướng phát triển xã hội;

– Sự phát triển xã hội được coi trọng hơn uy tín cá nhân.

2) Mối quan tâm xã hội:

– Cảm thức xã hội và cảm thức cộng đồng;

– Thái độ tương quan và thấu cảm với từng thành viên của cộng đồng;

– Là điều kiện tự nhiên kết liên xã hội;

(Biểu hiện: Hợp tác với người khác vì tiến bộ xã hội hơn là vì lợi ích cá nhân)

– Tìm sự hòan thiện cho tất cả mọi người trong một cộng đồng lý tưởng.

3) Lối sống, biểu hiện qua những chọn lựa của cuộc đời:

– Mục tiêu cá nhân;

– Hình ảnh bản thân;

– Cảm xúc về người khác;

– Thái độ đối với thế giới.

4) Bốn lối sống

(4.1) Lối sống lành mạnh, hữu dụng

Hành động với cảm thức cộng đồng, chủ động phấn đấu giải quyết ba vấn đề căn bản của cuộc sống: quan tâm đến người thân cận; tình yêu lành mạnh; triển nở trong nghề nghiệp.

Sống ba chức năng chính với sự cộng tác; lòng can đảm; ước muốn đóng góp vào phúc lợi của người khác.

[Lối sống lành mạnh] = [hình thái cao nhất của con người].

(4.2) Lối sống thống trị

Tìm cách thống trị người khác, đối phó với vấn đề cách ích kỷ (chỉ nghĩ đến mình), trở thành thiếu niên phạm pháp, bạo chúa, thống dâm…

Thống trị chủ động: (ví dụ tuổi học trò như chế nhạo, ngạo mạn với bạn bè để tìm thoả mãn vì bản thân học kém).

Thống trị thụ động: Tấn công người khác bằng cách tự sát, sử dụng ma tuý.

Có những người thuộc nhóm thống trị có tài và làm việc chăm chỉ, nhưng cạnh tranh quá độ và luôn khẳng định mình trổi vượt bằng cách làm “đạp người khác xuống”.

(4.3) Lối sống “hưởng thụ”

Sống dựa vào người khác;

Thụ động;

Có thể trầm cảm;

Trẻ con được nuông chiều đễ bị áp lực môi trường dẫn đến lối sống bệnh hoạn này;

Tuy nhiên, tác nhân chính vẫn là chọn lựa tự do của con người chứ không phải môi trường.

(4.4) Lối sống tránh né

Tránh đương đầu với các vấn đề để khỏi đối phó với thất bại;

Dễ trở nên trầm cảm;

Thường cô lập, có vẻ lạnh lùng để che dấu mặc cảm yếu kém và sự mong manh bên trong.

(Kiểu sống này có thể thấy nơi cả một dân tộc, một tôn giáo, một giai tầng xã hội)

5) Con người có năng lực sáng tạo

– Con người hoàn toàn tự do lựa chọn ý nghĩa và đường đời của mình

– Làm chủ cuộc đời

– Trách nhiệm về mục tiêu tối hậu của mình

– Quyết định phương thức phấn đấu đạt mục tiêu

– Năng lực sáng tạo đóng góp vào sự phát triển cảm thức cộng đồng

6) Con người là kiến trúc sư của đời mình

Trong việc xây dựng nhân cách, người ta ví [Di truyền + môi trường] = [gạch + hồ]

[Phong cách sống] = [Thiết kế kiến trúc]

Quan trọng nhất: Cách sử dụng các vật liệu xây dựng để ra sản phẩm→ hữu dụng hay vô dụng.

Chúng ta không tốt bẩm sinh, cũng không xấu bẩm sinh.

7) Thứ tự sinh trong gia đình

Điểm cộng ở người con cả: Khuynh hướng quan tâm, chăm chút, bảo vệ người khác; Là người tổ chức tốt.

Điểm trừ ở người con cả: Lo lắng nhiều; Cảm thức quyền lực, vượt trội quá đáng; Đấu tranh để được chấp nhận; Phải luôn “đúng”, trong khi người khác luôn “sai”; Dễ phê phán người khác; Không hợp tác; Là con một trong thời gian đầu; Thay đổi quan điểm về thế giới khi bị chiếm ngôi.

Điểm cộng ở người con út: Động cơ vượt các anh chị để giỏi nhất nhà.

Điểm trừ ở người con út: Sống kiểu được nuông chiều – có nguy cơ hư cao hơn; Cảm thấy mình thua kém; Thiếu tự lập; Muốn xuất sắc trong mọi chuyện.

Đặc điểm con một: Chỉ có bố mẹ để cạnh tranh; Sống trong thế giới người lớn: cảm thức phóng đại về sự vượt trội và hình ảnh bản thân được thổi phồng; Có thể thiếu tinh thần cộng tác và cảm thức cộng đồng; Có thể sống bám, mong chờ người khác nuông chiều và bảo vệ.

Liên hệ với nội dung cách thức giáo dục của cụ Ông ngày xưa, nó nhẹ nhàng, gần gũi…mà lại rất sâu sắc. Một tư tưởng xuyên suốt, đó là các con hãy phấn để thành công. Nếu chỉ vì bản thân, chỉ vì gia đình nhỏ thì vẫn chưa thoát được vòng lẫn quẫn và sự nhỏ mọn trong nhân cách con người; cái cần hướng đến (mục tiêu tối hậu) là phải có giá trị gì đó cho cộng đồng cho xã hội.

Cụ Ông luôn nhấn mạnh đối với các con là phải có lối sống lành mạnh và hữu dụng; nhất định không sa đà với những cám dỗ, nhất là ma túy.

Theo thứ tự trong gia đình thì cụ Ông là con cả, rất vất vả trong việc tổ chức và bảo vệ gia đình có 10 người em. Với tính cách quyết đoán, khả năng tự lâp, mẫu mực và pha chút nghiêm khắc, nên đã dễ dàng dẫn dắt đàn em đông đúc như vậy. Giai đoạn năm 1956- 1960 (khi mới tuổi đôi mươi), Ông đã trở thành thầy giáo trường làng, giúp cho nhiều người biết cái chữ và biết cái nghĩa (các học trò như: chú Bảy Tiển, chú Út Hữu, chú Út Sang, chú Bảy Giang, chú Chín Xuân… ngày nay còn ghi nhớ ơn Ông).

Vào những ngày cuối đời, khi chị ba Mân (vừa hỏi vừa đùa): “vàng của ba để ở đâu vậy, có ý định chia cho ai chưa…” thì Ông đáp: “vàng thì có, nhưng trên danh nghĩa thôi con! Mặt mũi mới đáng ngàn vàng”. Có nghĩa rằng từ nghĩa đen về mặt giá trị vật chất, Ông đã luyến láy sang nghĩa bóng giá trị về mặt nhân cách. Một câu đáp đánh lạc hướng, ví von, nhưng lại sâu sắc vô cùng.

Cảm ơn Ông đã để lại di sản tinh thần tuyệt vời!

Nhận Xét Của Khách Hàng
0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest

0 Góp ý
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận